Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Phấn đấu đến năm 2030 thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia
Kết luận cũng xác định các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể. Trong đó, đến năm 2030, 5 mục tiêu cụ thể gồm: Hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách về nhân tài; phấn đấu thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia bao gồm cả khu vực công và khu vực tư, gắn với nhiệm vụ, chương trình, dự án cụ thể; vận hành đồng bộ hạ tầng số quốc gia về nhân tài; hình thành hệ sinh thái nhân tài quốc gia mở, liên thông và hội nhập; thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu.
Đến năm 2045, Việt Nam chủ động bảo đảm nguồn lực nhân tài; phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu.
Theo Phó Thủ tướng, so với vị trí 76/135 nền kinh tế hiện nay, mục tiêu này thực sự rất thách thức; cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp phải kiên trì, quyết tâm, quyết liệt và đồng bộ trong cải thiện thể chế, phát triển, thu hút và giữ chân nhân tài.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Kết luận đề ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất nhận thức, hành động của cả hệ thống chính trị về công tác nhân tài.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh việc thống nhất cách nhận diện nhân tài. Theo đó, nhân tài là người có phẩm chất, tố chất, năng lực nổi trội và tư duy sáng tạo; có sản phẩm, thành tích hoặc đóng góp đặc biệt, có tính đột phá, tạo ra giá trị và tác động tích cực; có khả năng đảm nhận, giải quyết hiệu quả những nhiệm vụ quan trọng, mới, khó, phức tạp.
Cách nhận diện này tạo nguyên tắc có tính khung để phát hiện, lựa chọn và trọng dụng đúng người; trên cơ sở đó, từng ngành, từng lĩnh vực phải cụ thể hóa phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển và yêu cầu nhiệm vụ để nhận diện nhân tài.
Cùng với đó, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện, tiến cử, lựa chọn, trọng dụng, tạo điều kiện và chịu trách nhiệm về kết quả công tác nhân tài; đề cao trách nhiệm của mỗi nhân tài trong tự rèn luyện, giữ gìn uy tín nghề nghiệp và khát vọng cống hiến cho đất nước.
Khẳng định doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong phát hiện, tiến cử, thu hút, trọng dụng nhân tài. Đây là bước chuyển tư duy, đặt doanh nghiệp vào vai trò chủ động kiến tạo hệ sinh thái nhân tài quốc gia.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và tập trung nguồn lực thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn.
Trong đó, Phó Thủ tướng lưu ý 4 trọng tâm. Về thể chế, rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và pháp luật về công tác cán bộ, công tác nhân tài, tháo gỡ rào cản về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình; xây dựng Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài; cập nhật danh mục ngành, lĩnh vực mũi nhọn.
Về chính sách, hoàn thiện các chính sách tiền lương, thuế, nhà ở, xuất nhập cảnh, an sinh xã hội đối với nhân tài và thân nhân của nhân tài, bảo đảm đủ mạnh, tạo được sự yên tâm để người tài tập trung cống hiến.
Về nguồn lực, bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài khoảng 0,1% GDP hằng năm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chuyển từ kiểm soát chi tiết quy trình sang trao quyền gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh xã hội hóa, có ưu đãi về thuế, tín dụng để huy động nguồn lực của doanh nghiệp và xã hội.
Về công cụ, xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống chỉ số quốc gia về nhân tài, Cổng thông tin quốc gia về nhân tài và các nền tảng số để phục vụ quản trị nhân tài.
Thứ ba, đổi mới phương thức phát hiện, lựa chọn, trọng dụng và đánh giá nhân tài theo nhiệm vụ và kết quả.
Kết luận nhấn mạnh: Phát hiện, tiến cử nhân tài từ nhiều nguồn, cả trong và ngoài nước, không phân biệt khu vực công và tư, không tính vào chỉ tiêu biên chế đối với khu vực công. Lựa chọn, trọng dụng đúng người, đúng việc, đúng sở trường; giao việc xứng tầm, trao thẩm quyền thực chất đi liền với trách nhiệm giải trình. Đánh giá bằng kết quả, chất lượng sản phẩm, giá trị tạo ra; kịp thời chấm dứt giao nhiệm vụ khi nhân tài không đáp ứng yêu cầu.
Theo Phó Thủ tướng, vấn đề này thể hiện tư duy đổi mới, coi công tác nhân tài là một quá trình liên tục, gắn kết chặt chẽ: Phát hiện đúng là tiền đề, trọng dụng hiệu quả là then chốt, đánh giá thực chất là động lực để nhân tài phát huy năng lực và cống hiến. Đây cũng là tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Xây dựng văn hóa trọng người thực tài, khắc phục tình trạng đố kỵ, cô lập, sợ người giỏi
Nhóm giải pháp thứ 4, đó là chủ động tạo nguồn và phát triển nhân tài quốc gia, gồm 4 nội dung chính: (1) Xây dựng chương trình tạo nguồn theo từng nhóm, ngành, lĩnh vực và giai đoạn. (2) Phát hiện sớm, tuyển chọn, đào tạo tài năng trẻ, theo dõi, hỗ trợ phát triển lâu dài. (3) Trao quyền tự chủ cao hơn cho đại học, viện nghiên cứu, gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm soát chất lượng và liêm chính học thuật. (4) Thiết lập cơ chế "Nhân tài dẫn dắt nhân tài", đây là điểm mới trong tư duy, chuyển từ phát triển từng cá nhân sang hình thành đội ngũ và năng lực bền vững. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là hình thành quá trình phát triển liên tục, lâu dài, từ việc phát hiện, ươm mầm tài năng đến đào tạo, giao nhiệm vụ và trưởng thành qua thực tiễn.
Thứ năm, xây dựng văn hóa trọng dụng nhân tài, tạo lập môi trường và điều kiện để nhân tài phát huy năng lực, cống hiến và tạo giá trị, trong đó lưu ý 3 cốt lõi: (1) Xây dựng văn hóa trọng người thực tài, khắc phục tình trạng đố kỵ, cô lập, sợ người giỏi; (2) Mở rộng quyền tự chủ trong chuyên môn. (3) Tạo điều kiện để nhân tài khởi nghiệp, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về nhân tài, nhất là những ngành, lĩnh vực mũi nhọn, nhấn mạnh 3 trọng tâm:
(1) Gắn hợp tác, trao đổi nhân tài với nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.
(2) Thu hút nhân tài là người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế tham gia đào tạo, cố vấn, chủ trì hoặc đồng chủ trì nhiệm vụ chiến lược tại Việt Nam.
(3) Phát triển Mạng lưới nhân tài Việt Nam theo ngành, lĩnh vực trong nước và xuyên quốc gia. Hiệu quả hợp tác phải thể hiện ở việc tri thức được chuyển giao, công nghệ được làm chủ và năng lực của đội ngũ trong nước được nâng lên.
Theo Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, xuyên suốt 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là sự đổi mới căn bản về tư duy và phương thức quản trị nhân tài: Lấy nhiệm vụ chiến lược làm định hướng; phẩm chất, năng lực, sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo; trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là căn bản, lâu dài; quyền tự chủ, nguồn lực và điều kiện làm việc của cơ quan sử dụng phải đi liền với trách nhiệm, năng lực, phẩm chất, uy tín, đam mê và sự cống hiến của nhân tài.
"Chúng ta không chỉ đặt vấn đề Nhà nước, doanh nghiệp cần làm gì, hỗ trợ ra sao để thu hút, trọng dụng nhân tài, mà còn phải trả lời được câu hỏi nhân tài có thể đóng góp, cống hiến gì cho đất nước", Phó Thủ tướng nói.
Triển khai đồng bộ, gắn trách nhiệm với tiến độ và sản phẩm
Về tổ chức thực hiện, Kết luận đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho Bộ Chính trị, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban đảng Trung ương, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương.
Phó Thủ tướng đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng khẩn trương nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nội dung Kết luận; ban hành chương trình, kế hoạch thực hiện phù hợp với đặc điểm của từng ngành, lĩnh vực, địa phương.
Bộ Chính trị đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận, xác định 30 nhiệm vụ, chương trình, đề án quan trọng, giao 14 cơ quan chủ trì, có thời hạn, sản phẩm và nguồn lực cụ thể; phần lớn phải hoàn thành trong quý II và quý III năm 2027. Hiện Chính phủ đang hoàn thiện Chương trình hành động để ban hành ngay sau Hội nghị này.
Dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh "Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài", Phó Thủ tướng đề nghị mỗi cấp ủy, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người đứng đầu chủ động phát hiện người tài, có bản lĩnh giao trọng trách và bảo đảm điều kiện để họ phát huy năng lực.
Phó Thủ tướng cũng kêu gọi mỗi người tài, dù ở trong nước hay ngoài nước, hãy đem trí tuệ, tài năng và khát vọng sáng tạo góp sức, cống hiến vào sự phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày chuyên đề tại Hội nghị - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Nội dung Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra sáng 16/10, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày chuyên đề về Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Theo nội dung chuyên đề, sau 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006, số đảng viên tham gia làm kinh tế tư nhân đã tăng hơn 5 lần, từ hơn 35.000 người năm 2006 lên 187.000 người năm 2026. Tuy nhiên, so với tổng số hơn 5,6 triệu đảng viên, số đảng viên làm kinh tế tư nhân mới chiếm 3,31%.
Trong bối cảnh kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế theo Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 68-NQ/TW, việc ban hành Quy định số 224-QĐ/TW nhằm tạo điều kiện để đảng viên phát huy năng lực, huy động nguồn lực hợp pháp tham gia đầu tư, kinh doanh, đóng góp cho phát triển đất nước.
Điểm đổi mới căn bản của Quy định số 224-QĐ/TW là chuyển tư duy quản lý từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" để đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng; từ cách tiếp cận chủ yếu theo hướng "được làm, không được làm" sang phân định rõ 3 nhóm: Được làm; được làm có điều kiện, có kiểm soát; không được làm.
Quy định gồm 3 chương, 14 điều, xác định phạm vi hoạt động đầu tư, kinh doanh tương đối rộng, bao gồm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, thành lập tổ chức kinh tế, thực hiện dự án hoặc hợp đồng đầu tư, mua bán, nắm giữ chứng khoán và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Quy định đồng thời đặt ra những nguyên tắc xuyên suốt: đảng viên phải tuân thủ quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; thực hiện trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động và người tiêu dùng; quyền tài sản hợp pháp được bảo vệ. Quyền tham gia đầu tư, kinh doanh và các giới hạn đi kèm được xác định trên cơ sở chức danh, vị trí công tác và nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích.
Đặc biệt, cán bộ trong khu vực công không được sử dụng trái quy định tài sản, thông tin, nhân lực hoặc nguồn lực công để phục vụ hoạt động kinh doanh của bản thân, người có liên quan hay nhóm lợi ích; không được đầu tư vào tổ chức, lĩnh vực thuộc phạm vi mình trực tiếp quyết định hoặc quản lý, cũng như không để hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ. Việc được tổ chức đảng chấp thuận không thay thế các thủ tục, điều kiện theo quy định của pháp luật.
Quy định số 224-QĐ/TW phân loại hoạt động đầu tư, kinh doanh thành 4 nhóm: Hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý hoặc điều hành; đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có quyền chi phối nhưng không tham gia quản lý, điều hành; và đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành.
Trên cơ sở đó, Quy định xác định quyền và giới hạn đối với 6 nhóm đảng viên, bảo đảm vừa tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh hợp pháp, vừa kiểm soát nguy cơ xung đột lợi ích theo từng vị trí, chức trách.
Đối với đảng viên ngoài khu vực công, được thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng. Tuy nhiên, không được lợi dụng tư cách đảng viên hoặc các mối quan hệ để tạo lợi thế bất bình đẳng trong kinh doanh.
Đối với đảng viên là cán bộ, công chức, Quy định cho phép tất cả cán bộ, công chức thực hiện hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và tham gia đầu tư kinh doanh mà không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý hoặc điều hành mà không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng.
Đáng chú ý, cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và không giữ vị trí có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Tuy nhiên, cán bộ, công chức không được tham gia quản lý, điều hành tổ chức kinh tế dưới bất kỳ hình thức nào.
Đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và cán bộ, công chức làm việc tại vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích, giới hạn chặt chẽ hơn: Không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nắm giữ cổ phần chi phối, quản lý hoặc điều hành. Cách tiếp cận này gắn quyền đầu tư, kinh doanh với vị trí công tác, đồng thời ngăn ngừa khả năng quyền lực công bị sử dụng để tạo lợi thế cho lợi ích riêng.
Đối với đảng viên là viên chức, tất cả viên chức được thực hiện hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý hoặc điều hành mà không cần chấp thuận. Viên chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao được thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối nhưng không tham gia quản lý, điều hành.
Viên chức không giữ chức vụ quản lý và không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao có thể tham gia quản lý, điều hành sau khi được chấp thuận. Viên chức không giữ chức vụ quản lý cũng có thể tạm rời vị trí công tác để thành lập, chi phối, quản lý hoặc điều hành tổ chức kinh tế theo quy định.
Ngược lại, viên chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao không được thành lập, chi phối, quản lý hoặc điều hành tổ chức kinh tế; viên chức quản lý không được đồng thời quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp đại diện vốn hoặc được cử thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Đối với đảng viên trong quân đội, công an, được thực hiện hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý hoặc điều hành mà không cần chấp thuận.
Người không ở vị trí có nguy cơ cao có thể thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối sau khi được chấp thuận, đồng thời phải bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác, yêu cầu quốc phòng và an ninh.
Trong thời gian công tác, nhóm này không được quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp thực hiện nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền giao. Người giữ vị trí có nguy cơ cao không được thành lập, chi phối, quản lý hoặc điều hành tổ chức kinh tế.
Đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước và người đại diện phần vốn nhà nước, Quy định cho phép thực hiện hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý hoặc điều hành. Họ được mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện quyền cổ đông tại doanh nghiệp do mình quản lý hoặc đại diện phần vốn theo quy định, nhưng phải bảo đảm tách bạch với nhiệm vụ được giao.
Việc thành lập, chi phối, quản lý hoặc điều hành tổ chức kinh tế phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Nhóm này không được đầu tư vào ngành, lĩnh vực có lợi ích trực tiếp liên quan đến doanh nghiệp nhà nước mà mình quản lý hoặc đại diện phần vốn, trừ trường hợp được quy định.
Đối với đảng viên sau khi thôi chức, thôi công tác hoặc nghỉ hưu, nếu không còn làm việc trong khu vực công thì được tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh như đảng viên ngoài khu vực công, nhưng vẫn phải tuân thủ các hạn chế theo pháp luật đối với lĩnh vực, công việc đã phụ trách. Trường hợp tiếp tục làm việc trong khu vực công, quyền và giới hạn đầu tư, kinh doanh được xác định theo chức danh mới và các quy định liên quan.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nêu, việc phân định theo 6 nhóm cho thấy Quy định không áp dụng một giới hạn chung cho mọi đảng viên, mà đặt ra những điều kiện khác nhau tùy theo vị trí, thẩm quyền và mức độ rủi ro xung đột lợi ích. Qua đó, quyền tham gia kinh doanh được mở rộng trong khuôn khổ kiểm soát rõ ràng, phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ và trách nhiệm của từng đối tượng.
Cùng với việc mở rộng quyền đầu tư, kinh doanh, Quy định số 224-QĐ/TW đặc biệt nhấn mạnh cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích tại Điều 12.
Theo đó, việc kiểm soát bao gồm nhận diện, đánh giá nguy cơ; quy định trách nhiệm báo cáo của đảng viên; trách nhiệm xem xét, xử lý của cấp có thẩm quyền; và chia sẻ dữ liệu, hồ sơ theo chức năng, quyền hạn.
"Đây là cơ chế quan trọng nhằm phát hiện, phòng ngừa những tình huống trong đó lợi ích cá nhân có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc kiểm soát không chỉ tập trung vào hành vi vi phạm đã xảy ra, mà còn hướng tới nhận diện và xử lý nguy cơ từ sớm, nhất là đối với những vị trí có thẩm quyền quyết định, quản lý hoặc phân bổ nguồn lực công", đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nói.
Quy định cũng làm rõ ranh giới giữa quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp của đảng viên với việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phục vụ lợi ích riêng. Việc tham gia kinh doanh không được làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ; không được sử dụng sai tài sản, thông tin, nhân lực và nguồn lực công; không được tạo lợi thế bất bình đẳng cho bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, với những thay đổi này, Quy định số 224-QĐ/TW vừa tạo hành lang để đảng viên phát huy năng lực, huy động nguồn lực và làm giàu chính đáng, vừa tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ. Trọng tâm không chỉ là xác định đảng viên được làm gì, mà còn là làm rõ điều kiện thực hiện, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát tương ứng.
Quy định thể hiện yêu cầu kết hợp giữa khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân với bảo đảm liêm chính trong hoạt động công vụ; bảo vệ quyền tài sản hợp pháp nhưng không để tư cách đảng viên, chức vụ hoặc quyền lực công trở thành công cụ trục lợi. Mỗi đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh phải tuân thủ pháp luật, quy định của Đảng, thực hiện trách nhiệm với xã hội và nêu gương trong hoạt động kinh tế.
Qua đó, Quy định số 224-QĐ/TW hướng tới khơi thông nguồn lực đầu tư, kinh doanh hợp pháp trong đội ngũ đảng viên, đồng thời giữ vững nguyên tắc kiểm soát quyền lực, phòng ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm hoạt động kinh doanh không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt những nội dung cốt lõi của 3 nghị quyết - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt những nội dung cốt lõi của 3 Nghị quyết:
- Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới;
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới;
- Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, đây không phải là 3 Nghị quyết riêng lẻ, mà là 3 bộ phận gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất, cùng giải quyết những vấn đề có ý nghĩa nền tảng và quyết định đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Trong đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tạo nền tảng vững chắc; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền tạo bước chuyển về chất trong năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt, quyết định kết quả tổ chức thực hiện. 3 nghị quyết có trọng tâm riêng nhưng bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, không thể tách rời.
Việc đồng thời ban hành 3 nghị quyết thể hiện bước phát triển mới trong tư duy và tầm nhìn chiến lược về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, hướng mạnh vào nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản trị quốc gia; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, chuyển những chủ trương, quyết sách đúng đắn thành kết quả phát triển thực chất, nâng cao đời sống Nhân dân.
6 nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 31-NQ/TW
Tại Hội nghị, đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh 6 nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 31-NQ/TW.
Thứ nhất, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng, coi đây là yêu cầu thường xuyên, xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của Đảng. Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, đây là tư tưởng rất quan trọng của Nghị quyết. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ được đặt ra khi có hạn chế, khuyết điểm hoặc khi xuất hiện những vấn đề phức tạp, mà phải trở thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ hai, nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa "xây" và "chống", quản lý Đảng chặt chẽ, nghiêm minh. Theo đó, Nghị quyết tiếp tục khẳng định "xây" là cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" phải kiên quyết, kiên trì, nghiêm minh, đồng thời, bảo đảm tính giáo dục và nhân văn.
Đảng muốn lãnh đạo tốt thì trước hết phải quản lý tốt chính mình. Quản lý chặt chẽ để phòng ngừa sai phạm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương; quản lý nghiêm minh để bảo đảm mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Thứ ba, xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh; đề cao văn hóa của Đảng, trách nhiệm nêu gương và sự thống nhất giữa lời nói với việc làm. Đây là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng đối với việc củng cố bản chất, uy tín và sức chiến đấu của Đảng.
Thứ tư, xây dựng Đảng phải thực sự dựa vào Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Nghị quyết tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", coi đây là nguyên tắc xuyên suốt trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Thứ năm, gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả phát triển đất nước; lấy kết quả thực tiễn làm thước đo quan trọng. Đây là một trong những điểm thể hiện rõ yêu cầu mới của Nghị quyết.
Chất lượng công tác xây dựng Đảng phải được kiểm chứng không chỉ qua việc thực hiện các nguyên tắc, quy định, chế độ sinh hoạt hay kết quả đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên, mà quan trọng hơn là qua năng lực lãnh đạo, cầm quyền, chất lượng quản trị quốc gia, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và kết quả phát triển đất nước.
Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong Đảng, coi đây là phương thức quan trọng để đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn và quản lý Đảng trong giai đoạn mới.
Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, chuyển đổi số trong Đảng không chỉ là số hóa văn bản, hồ sơ đảng viên hay đưa các quy trình công tác lên môi trường điện tử, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức tổ chức, quản lý, điều hành và lãnh đạo trên cơ sở dữ liệu, công nghệ số và những phương pháp quản trị hiện đại…
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết có thể khái quát Nghị quyết thứ nhất là: "Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, mà còn phải làm cho Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực và uy tín để lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên mới.
Trên nền tảng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng".
Nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 29-NQ/TW
Truyền đạt nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết Nghị quyết lần này kế thừa, phát triển những quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 28-NQ/TW khóa XIII, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính trị và nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết có 5 nội dung cốt lõi.
Thứ nhất, tiếp tục làm rõ và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm Đảng lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay; phát huy đầy đủ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong hệ thống chính trị.
Đây là yêu cầu cốt lõi, xuyên suốt quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đảng lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và xã hội, nhưng phải bằng phương thức phù hợp, khoa học, dân chủ, đúng nguyên tắc, bảo đảm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức.
Thứ hai, đổi mới phân công, phân cấp, phân quyền theo hướng rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, gắn với kiểm soát quyền lực và phát huy tính chủ động, sáng tạo. Nghị quyết đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình tổ chức mới của hệ thống chính trị, nhất là chính quyền địa phương hai cấp.
Tinh thần cơ bản là việc gì cấp nào làm tốt hơn thì giao cho cấp đó; đã giao nhiệm vụ phải giao thẩm quyền, nguồn lực và điều kiện thực hiện tương ứng; đã giao quyền phải xác định rõ trách nhiệm, cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, đổi mới căn bản việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết, bảo đảm mỗi chủ trương, quyết sách được chuẩn bị kỹ lưỡng, có tính khả thi và được thực hiện đến cùng. Đây là một trong những yêu cầu đổi mới rất quan trọng của Nghị quyết.
Nghị quyết yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu, tham mưu, hoạch định chủ trương, quyết sách; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo, đánh giá tác động, nhận diện rủi ro và tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, các đối tượng chịu tác động. Đối với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ, cần có cơ chế thí điểm phù hợp, được kiểm soát chặt chẽ, có tiêu chí đánh giá và điều kiện để điều chỉnh hoặc nhân rộng.
Một yêu cầu đáng chú ý là việc xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện phải được tiến hành đồng thời với quá trình chuẩn bị và ban hành nghị quyết, bảo đảm rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn lực, thời hạn và kết quả cần đạt.
Nghị quyết lần này đòi hỏi phải khắc phục những hạn chế đó. Văn bản của Đảng phải ngắn gọn, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, đánh giá. Trong quá trình thực hiện phải thường xuyên theo dõi, kịp thời phát hiện vấn đề phát sinh để điều chỉnh phù hợp.
Thứ tư, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát theo hướng chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm, đồng hành với tổ chức thực hiện và nâng cao hiệu quả lãnh đạo. Nghị quyết tiếp tục khẳng định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới cả về tư duy, nội dung và cách thức thực hiện.
Kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện và xử lý vi phạm, mà còn phải giúp phát hiện những bất cập trong chủ trương, cơ chế, chính sách; nhận diện khó khăn, vướng mắc, cảnh báo nguy cơ và kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện.
Thứ năm, hiện đại hóa phương thức lãnh đạo, cầm quyền trên cơ sở nâng cao năng lực tham mưu chiến lược, dự báo, ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Trong điều kiện tình hình thế giới và trong nước biến đổi nhanh chóng, nhiều vấn đề mới, phức tạp, chưa có tiền lệ, phương thức lãnh đạo của Đảng phải ngày càng khoa học, chủ động, có khả năng dự báo và thích ứng cao. Nghị quyết yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu chiến lược, năng lực phát hiện vấn đề, dự báo, cảnh báo sớm và đề xuất chính sách; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ phân tích, tham mưu, ra quyết định, theo dõi và đánh giá kết quả.
Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết thứ hai là: Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền không làm thay đổi bản chất, mục tiêu và những nguyên tắc nền tảng của Đảng, mà nhằm làm cho sự lãnh đạo của Đảng ngày càng khoa học, dân chủ, hiện đại, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và hiệu quả hơn. Muốn thực hiện được yêu cầu đó, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm.
Nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 30-NQ/TW
Truyền đạt nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 15/10/2026 về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, thực tiễn cho thấy, cùng một chủ trương, cùng một cơ chế, chính sách, nhưng có nơi thực hiện rất tốt, có nơi lại trì trệ, kéo dài. Sự khác biệt nhiều khi không nằm ở chủ trương, mà ở năng lực, trách nhiệm và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu.
Vì vậy, Đảng ta xác định công tác cán bộ là then chốt của then chốt; phải tạo ra sự thay đổi thực chất về chất lượng đội ngũ, để người có đức, có tài được phát hiện, trọng dụng, phát huy; người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung được khuyến khích, bảo vệ; người không đáp ứng yêu cầu phải được bố trí lại hoặc thay thế kịp thời.
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc tập trung làm rõ 5 nhóm nội dung chủ yếu của Nghị quyết. Thứ nhất, đổi mới tư duy về công tác cán bộ, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ để lựa chọn, xây dựng và phát triển đội ngũ; không bố trí công việc theo con người hiện có. Đây là sự thay đổi rất quan trọng trong cách tiếp cận công tác cán bộ.
Trước hết phải xác định rõ yêu cầu nhiệm vụ, chức năng, vị trí việc làm và những năng lực cần thiết; từ đó mới lựa chọn, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ phù hợp. Không thể vì đang có cán bộ như thế nào mà thiết kế công việc theo con người như thế ấy, hoặc chỉ căn cứ vào bằng cấp, thâm niên, quá trình công tác để bố trí cán bộ.
Nghị quyết đặt ra yêu cầu quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ một cách thống nhất, liên tục, từ tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến đánh giá, bố trí, sử dụng, sàng lọc và thực hiện chính sách. Mỗi khâu phải gắn với yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, bảo đảm tính kế thừa, ổn định và phát triển.
Thứ hai, đổi mới thực chất việc đánh giá cán bộ, lấy phẩm chất, năng lực, uy tín và đặc biệt là kết quả, sản phẩm công việc làm thước đo chủ yếu.
Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, qua nhiều nhiệm kỳ, công tác đánh giá cán bộ được xác định là "khâu yếu" thì hiện nay được xác định là điểm đột phá quan trọng nhất. Nghị quyết yêu cầu khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, bình quân, nể nang, né tránh; không chỉ đánh giá qua hồ sơ, báo cáo, nhận xét chung chung mà phải dựa vào kết quả thực hiện nhiệm vụ, những sản phẩm cụ thể, có thể kiểm chứng.
Tuy nhiên, đánh giá bằng kết quả không có nghĩa là chỉ nhìn vào những con số mà phải xem xét kết quả trong mối quan hệ với tính chất, độ khó của nhiệm vụ, điều kiện thực hiện, nguồn lực được giao và đóng góp thực chất của từng cá nhân.
Thứ ba, đổi mới cơ chế phát hiện, tạo nguồn, lựa chọn và sử dụng cán bộ theo hướng rộng mở, thực chất hơn; đặc biệt coi trọng phát hiện, trọng dụng nhân tài.
Theo đó, Nghị quyết yêu cầu khắc phục tình trạng tạo nguồn khép kín, cục bộ; chủ động chuẩn bị đội ngũ kế cận từ sớm, từ xa, nhiều lớp, nhiều phương án; mở rộng nguồn cán bộ có chất lượng từ thực tiễn công tác, từ các lĩnh vực, khu vực và môi trường hoạt động khác nhau theo quy định.
Phải mạnh dạn phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học, kỹ thuật và những người có năng lực nổi trội.
Đồng thời, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ chuyên môn sâu, tạo điều kiện để những người giỏi chuyên môn được cống hiến, phát triển tương xứng, không nhất thiết phải trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý mới được ghi nhận, đãi ngộ.
Thứ tư, tạo động lực để cán bộ cống hiến, khuyến khích và bảo vệ người dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung; đồng thời kiên quyết sàng lọc, thay thế người không đáp ứng yêu cầu.
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, Nghị quyết đặt ra yêu cầu phải xây dựng môi trường làm việc trong đó người có đức, có tài có cơ hội phát huy; người làm tốt được ghi nhận, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng; người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung được khuyến khích và bảo vệ theo quy định.
Đồng thời, phải khắc phục tình trạng cán bộ yếu kém, trì trệ, né tránh trách nhiệm nhưng vẫn được bố trí, sử dụng kéo dài; thực hiện nghiêm việc rà soát, sàng lọc, bố trí lại, miễn nhiệm hoặc thay thế những người không đáp ứng yêu cầu.
Thứ năm, kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu; đồng thời hoàn thiện thể chế và ứng dụng dữ liệu, công nghệ để nâng cao tính khách quan, minh bạch.
Đổi mới công tác cán bộ phải đi đôi với giữ vững nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm công tâm, khách quan, công khai, minh bạch theo quy định.
Phải phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong đánh giá, đề xuất, thẩm định, giới thiệu, quyết định và kiểm tra công tác cán bộ.
Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về việc nhận xét, đánh giá, tiến cử, giới thiệu và sử dụng cán bộ trong phạm vi thẩm quyền; không lợi dụng nguyên tắc tập thể để né tránh trách nhiệm cá nhân, cũng không lấy trách nhiệm cá nhân để làm thay thẩm quyền của tập thể.
Một yêu cầu quan trọng là đánh giá trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu không chỉ ở kết quả thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ, mà còn ở chất lượng đội ngũ cán bộ và nguồn kế cận mà mình xây dựng được.
Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, có thể khái quát tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết thứ ba là: Đổi mới công tác cán bộ phải bắt đầu từ yêu cầu nhiệm vụ, lấy phẩm chất, năng lực và kết quả công việc làm thước đo; lựa chọn đúng người, bố trí đúng việc, phát huy được người có tài, có đức; khuyến khích, bảo vệ người dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung và kịp thời thay thế người không đáp ứng yêu cầu.
Như vậy, 3 nghị quyết có trọng tâm riêng nhưng cùng hướng tới một mục tiêu thống nhất: Đảng trong sạch, vững mạnh hơn; phương thức lãnh đạo, cầm quyền khoa học, hiệu quả hơn; đội ngũ cán bộ có chất lượng, trách nhiệm và năng lực thực thi cao hơn.
Nghị quyết số 28-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV
Trước đó, ngày 8/10/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV.
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV họp từ ngày 05/10 đến ngày 08/10/2026 tại Thủ đô Hà Nội; sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, quyết nghị:
1. Thông qua nội dung các văn kiện sau:
- Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
- Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.
- Nghị quyết về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
- Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
- Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh.
- Kết luận về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.
- Kết luận về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026, kế hoạch năm 2027.
- Kết luận về Đề cương tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.
- Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng để tiếp thu, giải trình, chỉ đạo hoàn thiện, ban hành các văn kiện và quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện.
2. Thảo luận, cho ý kiến và thông qua các Báo cáo:
- Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị quý III/2026 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2026.
- Những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 3 đến Hội nghị Trung ương 4 và một số nhiệm vụ trọng tâm từ Hội nghị Trung ương 4 đến Hội nghị Trung ương 5 khoá XIV.
- Tình hình quốc tế và một số vấn đề nổi bật cần quan tâm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
- Một số tình hình an ninh nổi lên từ sau Đại hội XIV của Đảng đến nay.
3. Đồng ý chủ trương đổi tên Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương thành Đảng uỷ Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương. Giao Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định theo thẩm quyền và chỉ đạo thực hiện thống nhất, đồng bộ trong hệ thống chính trị.
4. Bầu bổ sung đồng chí Trần Quang Bảo, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bí thư Đảng uỷ, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ chức Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước; đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng; nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý chí tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Hội nghị Trung ương 4 đã cụ thể hóa một bước quan trọng Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, gắn xây dựng Đảng với quản trị quốc gia và phát triển đất nước
Tiếp nối những quyết sách từ đầu nhiệm kỳ, Hội nghị Trung ương 4 đã cụ thể hóa một bước quan trọng Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, gắn xây dựng Đảng với quản trị quốc gia và phát triển đất nước. Các quyết sách nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, thực thi, quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Giá trị của Hội nghị thể hiện qua những vấn đề được giải quyết, chuyển biến trong đời sống Nhân dân.
Phát biểu bế mạc Hội nghị trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 05 kết quả chủ yếu của Hội nghị:
Thứ nhất, Trung ương đã thống nhất định hướng nghiên cứu những vấn đề nền tảng của Đảng và con đường phát triển lâu dài của đất nước.
Trung ương thông qua các đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước 100 năm tiếp theo; tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Đây là cơ sở để tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và hoàn thiện nền tảng tổ chức của Đảng.
Trung ương khẳng định tiếp tục kiên định chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát triển lý luận từ thực tiễn Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc thành tựu tiến bộ của nhân loại.
Tổng kết phải làm rõ bài học về lựa chọn đường lối, nắm bắt thời cơ, quy tụ sức mạnh toàn dân tộc và tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng; lý giải cả thành công và hạn chế.
Tổng kết phải cung cấp căn cứ lý luận cho quyết sách sắp tới, nhận diện vấn đề mới cần nghiên cứu, giải quyết. Tầm nhìn 2030–2130 đòi hỏi chuẩn bị năng lực, điều kiện phát triển lâu dài, có trách nhiệm đối với các thế hệ sau của đất nước.
Đối với Điều lệ Đảng, Trung ương thông qua đề cương nghiên cứu tổng thể và từng nhóm nội dung. Nghiên cứu phải gắn với tổng kết Cương lĩnh, giữ vững nguyên tắc cơ bản và tính ổn định của Điều lệ; phân biệt bất cập của Điều lệ với hạn chế trong quy định thi hành và tổ chức thực hiện. Không định trước phạm vi, mức độ sửa đổi; chỉ đề xuất nội dung thật sự cần thiết, đủ căn cứ thực tiễn và thuộc phạm vi Điều lệ. Thẩm quyền sửa đổi Điều lệ thuộc Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.
Các cơ quan chủ trì phải triển khai đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng; huy động trí tuệ của các nhà lý luận, nhà khoa học, cán bộ thực tiễn, phục vụ chuẩn bị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XV và các quyết định chiến lược của Đảng.
Thứ hai, Trung ương đã quyết định những chủ trương mới về nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng và hệ thống chính trị.
Trung ương thông qua Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.
Trung ương khẳng định kết quả đạt được, chỉ rõ hạn chế trong tự kiểm tra, sửa chữa khuyết điểm, kiểm soát quyền lực và thực hiện trách nhiệm. Xây dựng Đảng phải toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao sức chiến đấu, trách nhiệm nêu gương và ý thức phục vụ Nhân dân. Sự trong sạch, vững mạnh phải thể hiện ở kết quả công việc, sự liêm chính của cán bộ và niềm tin của Nhân dân.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải làm cho tổ chức đảng vững mạnh, cán bộ trưởng thành, lãnh đạo và giải quyết công việc tốt hơn. Lấy xây dựng làm nhiệm vụ cơ bản, lâu dài; kiên quyết phòng ngừa, xử lý vi phạm, ngăn chặn suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Muốn tự sửa chữa, trước hết phải nghe được sự thật.
Cấp ủy, tổ chức đảng phải phát huy dân chủ để cán bộ, đảng viên nói thẳng, nói có trách nhiệm; người đứng đầu phải cầu thị, chịu nghe ý kiến khác với mình. Không để nể nang, né tránh làm khuyết điểm kéo dài, vi phạm tái diễn; phải khắc phục cả sai phạm và sơ hở dẫn đến sai phạm.
Cấp ủy, người đứng đầu chịu trách nhiệm về việc này. Giữ nghiêm kỷ cương, tạo môi trường liêm chính để cán bộ yên tâm giải quyết việc khó vì lợi ích chung. Giám sát thường xuyên, cảnh báo sớm, ngăn chặn cả lạm quyền và né tránh trách nhiệm. Quyền lực trong kiểm tra, giám sát cũng phải được kiểm soát chặt chẽ.
Trung ương thông qua Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, phù hợp mô hình tổ chức mới.
Các cấp ủy, tổ chức đảng phải thực hiện thống nhất, đúng thẩm quyền, quy trình trong kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng. Kỷ luật phải nghiêm minh, công tâm.
Nghị quyết và Quy định mới phải củng cố sự gắn bó giữa Đảng với Nhân dân. Cấp ủy phải tự kiểm tra từ phản ánh của Nhân dân, bảo vệ người góp ý ngay thẳng. Lắng nghe phải đi liền với trả lời, giải quyết; vấn đề chưa thể tiếp thu thì phải giải thích rõ. Phải kiểm tra việc thực hiện cam kết với Nhân dân, xem xét những bất cập được chỉ ra để sửa cách làm, hoàn thiện chính sách.
Thứ ba, Trung ương xác định yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, bảo đảm hệ thống chính trị vận hành thống nhất, hiệu quả.
Trung ương thông qua Nghị quyết mới về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Sự lãnh đạo toàn diện phải phát huy chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, thực hiện thực chất cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.
Phải nâng cao chất lượng từ phát hiện vấn đề, dự báo, lựa chọn phương án đến quyết định, thực hiện, kiểm tra và điều chỉnh. Dữ liệu, công nghệ phải giúp tham mưu chính xác, nhận diện sớm nguy cơ. Tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Phải khắc phục bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo hoặc xin ý kiến nhiều vòng về việc thuộc thẩm quyền. Cơ quan nhà nước chủ động thể chế hóa, quản lý, điều hành theo Hiến pháp, pháp luật. Không can thiệp làm mất quyền chủ động đã giao, không buông lỏng kiểm tra, giám sát, không thêm tầng nấc xử lý công việc. Đã được giao thẩm quyền thì phải quyết định và chịu trách nhiệm.
Đường lối của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật, chính sách đúng tinh thần, thống nhất và khả thi. Trách nhiệm không dừng ở ban hành văn bản. Cơ quan chủ trì phải theo dõi thi hành, xử lý vướng mắc thuộc thẩm quyền, kiến nghị sửa quy định không còn phù hợp. Khi chính sách không đạt mục tiêu, phải xem xét cả chất lượng tham mưu, thiết kế chính sách và trách nhiệm thực hiện.
Phân cấp, phân quyền phải gắn với nguồn lực, năng lực và kiểm soát quyền lực. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giao nhiệm vụ cho cơ sở phải đi cùng thẩm quyền, nhân lực, nguồn lực.
Cấp tỉnh phải bố trí, đào tạo cán bộ, bảo đảm điều kiện cho cấp xã; các cơ quan Trung ương phải xử lý kịp thời vướng mắc thuộc trách nhiệm của mình. Khi công việc ách tắc, phải xem xét trách nhiệm cả cấp thực hiện và cấp giao việc. Phân định rõ thẩm quyền tập thể, trách nhiệm cá nhân, giữ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Không dùng trách nhiệm tập thể che lấp trách nhiệm cá nhân; cá nhân không quyết định thay tập thể.
Đổi mới phương thức lãnh đạo phải bắt đầu từ lề lối làm việc của cấp ủy, cơ quan lãnh đạo. Giảm hội họp, báo cáo trùng lặp; dùng chung thông tin đã kiểm chứng, dành thời gian cho cơ sở và giải quyết công việc. Chuyển đổi số phải giúp công việc thông suốt, không phát sinh thêm thủ tục.
Thứ tư, Trung ương đã quyết định đổi mới công tác cán bộ và chính sách thu hút, sử dụng nhân tài, chuẩn bị đội ngũ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 26, Trung ương thông qua Nghị quyết mới về cán bộ và công tác cán bộ; đồng thời thông qua Đề án "Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững". Nhiệm vụ chiến lược của đất nước là căn cứ lựa chọn, sử dụng, phát triển đội ngũ cán bộ.
Nghị quyết xác định 3 đột phá: đánh giá, lựa chọn, sử dụng và sàng lọc cán bộ; tạo nguồn, phát triển đội ngũ và trọng dụng nhân tài; hoàn thiện thể chế và phương thức quản trị cán bộ. Phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ để tạo nguồn, đào tạo, bố trí; dùng kết quả đánh giá để lựa chọn, sàng lọc, bảo đảm kế thừa qua các nhiệm kỳ.
Phẩm chất, bản lĩnh, thực tài, uy tín phải thể hiện qua kết quả công việc; đánh giá kết quả phải xét độ khó của nhiệm vụ, điều kiện thực hiện và giá trị lâu dài. Thành tích không bù trừ vi phạm về chính trị, đạo đức, liêm chính. Người đánh giá, giới thiệu, bố trí cán bộ chịu trách nhiệm về quyết định giới thiệu của mình.
Giao trọng trách cho người làm tốt; đào tạo, rèn luyện cán bộ có triển vọng; thay thế người không đáp ứng yêu cầu theo quy định. Cán bộ cấp chiến lược phải biết dự báo, lựa chọn ưu tiên, quy tụ đội ngũ, xử lý vấn đề liên ngành, liên vùng; cán bộ cơ sở phải nắm chắc địa bàn, giải quyết công việc, phục vụ Nhân dân.
Mở rộng nguồn từ khu vực ngoài nhà nước và người Việt Nam ở nước ngoài theo tiêu chuẩn, yêu cầu nhiệm vụ. Chuẩn bị nguồn kế cận nhiều lớp; quan tâm cán bộ trẻ, cán bộ nữ, người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học, kỹ thuật; phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia chuyên sâu.
Người đứng đầu chịu trách nhiệm về công việc, đội ngũ kế cận và năng lực tổ chức. Phải phân biệt hành vi cố ý làm trái, vụ lợi, thiếu trách nhiệm với hạn chế năng lực và rủi ro khách quan khi đổi mới vì lợi ích chung. Bảo vệ cán bộ phải có căn cứ, kịp thời, đi đôi với giải trình, khắc phục hậu quả; không lợi dụng để bao che sai phạm.
Chiến lược nhân tài đặt trọng dụng ở vị trí then chốt, gắn thu hút với đào tạo, phát triển và cống hiến. Căn cứ nhiệm vụ chiến lược để tìm người, giao việc, trao quyền, bảo đảm nguồn lực; giữ người bằng môi trường làm việc, cơ hội sáng tạo, ghi nhận xứng đáng.
Trọng dụng không đồng nghĩa với bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; cần có các hình thức sử dụng phù hợp, không nhất thiết đều vào biên chế hoặc làm việc toàn thời gian tại một cơ quan. Kết nối nhân tài trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế; gắn nhà trường, viện nghiên cứu với doanh nghiệp.
Lấy phát hiện, đào tạo nhân tài trong nước làm nền tảng lâu dài. Cơ quan sử dụng phải giao việc xứng tầm, tạo điều kiện làm chủ công nghệ, xây dựng đội ngũ, chuyển giao tri thức; ghi nhận, đãi ngộ công bằng giữa người được thu hút và người đang cống hiến. Tôn trọng chuyên môn, chấp nhận rủi ro nghiên cứu có kiểm soát.
Thứ năm, Trung ương đã thống nhất mục tiêu phát triển, chủ trương ngân sách và phát huy nguồn lực để năm 2027 tăng tốc, bứt phá.
Trung ương thống nhất đánh giá: trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, dù thế giới biến động nhanh, phức tạp, đất nước vẫn đạt kết quả quan trọng, khá toàn diện. Tăng trưởng GDP 9 tháng ở mức cao; các cân đối lớn được bảo đảm; thu ngân sách, đầu tư công, FDI, xuất nhập khẩu, du lịch tăng mạnh.
Nhiều vướng mắc về thủ tục, dự án tồn đọng, hạ tầng được tháo gỡ; chuyển đổi số có bước tiến. An sinh xã hội được cải thiện; quốc phòng, an ninh được củng cố; đối ngoại là điểm sáng mang tầm quốc tế. Những kết quả đó khẳng định sức chống chịu, khả năng thích ứng và tiềm năng của nền kinh tế, của đất nước.
Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; sức ép giá cả gia tăng; giải ngân, xử lý dự án tồn đọng còn chậm. Nguồn lực đã bố trí nhưng chậm sử dụng.
Bên cạnh tác động bên ngoài, tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu: một số cơ quan, địa phương chưa chủ động, phối hợp chậm, năng lực cơ sở còn hạn chế.
Cấp ủy, cơ quan quản lý, người đứng đầu phải khắc phục những hạn chế này. Những tháng cuối năm, các bộ, ngành, địa phương phải giải quyết kịp thời việc thuộc thẩm quyền, báo cáo kèm phương án đối với việc vượt thẩm quyền. Các địa phương động lực, đầu tàu, cực tăng trưởng phải phát huy vai trò dẫn dắt.
Trung ương thống nhất mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu và nhiệm vụ trọng tâm năm 2027, phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, tốc độ tăng CPI bình quân khoảng 4,5%, giữ vững ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn.
Năm 2027 phải tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho những năm tiếp theo; cụ thể hóa Kết luận số 18, gắn với đổi mới mô hình phát triển theo Nghị quyết số 19.
Tăng trưởng cao phải dựa trên năng suất, sức cạnh tranh, năng lực tự chủ và nền tảng ổn định lâu dài; đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao mọi mặt đời sống Nhân dân.
Phải đưa nguồn lực đã huy động vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm và năng lực phát triển. Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đi cùng nâng cao năng lực hấp thụ vốn, bảo đảm hạ tầng, năng lượng, nhân lực; khơi thông đầu tư tư nhân, củng cố sức mua, phát triển doanh nghiệp trong nước. Không để lãng phí vốn, đất đai, tài sản và cơ hội. Phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, rủi ro.
Đầu tư công phải dẫn dắt đầu tư xã hội, kết nối vùng, mở rộng năng lực sản xuất; giải ngân gắn với khối lượng, chất lượng thực tế. Đầu tư nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp, tăng giá trị trong nước. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải nâng cao năng suất, sức cạnh tranh.
Về ngân sách, Trung ương thống nhất chủ trương cân đối năm 2027 và phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương; bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, tính chủ động của địa phương, bổ sung nguồn tích lũy cải cách tiền lương. Nuôi dưỡng nguồn thu, tiết kiệm từ khâu phân bổ để tăng nguồn lực cho dự án trọng điểm, cấp thiết và an sinh xã hội.
Rà soát, kiến nghị điều chỉnh quy định về tỷ lệ bố trí chi ngân sách cho ngành, lĩnh vực; không ban hành thêm các quy định này. Khi biến động hoặc chính sách mới tác động đến thu ngân sách, cho phép đánh giá hoàn thành nhiệm vụ tài chính-ngân sách theo dự toán điều chỉnh đúng thẩm quyền. Giữ nghiêm kỷ luật tài chính, bảo đảm cân đối lâu dài; đánh giá hiệu quả chi bằng kết quả thực tế, gắn trách nhiệm phân bổ với sử dụng.
Trung ương thông qua Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh, khuyến khích làm giàu chính đáng gắn với giữ vững bản chất của Đảng, xây dựng Đảng trong khu vực ngoài nhà nước và liêm chính công vụ.
Quyền, điều kiện, giới hạn tham gia phải phù hợp địa vị pháp lý, chức trách, mức độ rủi ro xung đột lợi ích. Kiểm soát phải căn cứ quyền sở hữu, quyền chi phối, lợi ích thực tế, không chỉ người đứng tên; bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp, không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng. Xung đột lợi ích phải được báo cáo, xử lý đúng thẩm quyền, không dừng ở kê khai.
Đảng viên làm kinh tế phải nêu gương chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; tạo điều kiện để họ tiến bộ, hưởng thành quả tương xứng với đóng góp, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố sự gắn bó của Nhân dân, người lao động với Đảng.
Các quyết sách của Hội nghị phải được thực hiện đồng bộ, gắn xây dựng Đảng với phát triển đất nước. Kết quả thực hiện là căn cứ đánh giá năng lực lãnh đạo, công tác cán bộ, trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương. Ngay sau Hội nghị, tôi đề nghị các đồng chí tập trung 3 nhiệm vụ:
Thứ nhất, cụ thể hóa đầy đủ, thể chế hóa kịp thời các quyết sách của Hội nghị. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo; Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và các cấp ủy thực hiện theo thẩm quyền.
Phải rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, điều kiện thực hiện; xử lý nội dung giao thoa, tránh chồng chéo, bỏ sót trách nhiệm. Việc đã rõ phải làm ngay; thí điểm phải rõ phạm vi, thẩm quyền, thời hạn, tiêu chí đánh giá và kiểm soát rủi ro.
Thứ hai, hoàn thành cao nhất nhiệm vụ năm 2026, tạo nền tảng để năm 2027 tăng tốc, bứt phá. Các bộ, ngành, địa phương chủ động tháo gỡ vướng mắc, chuẩn bị kế hoạch, ngân sách, con người và nguồn lực cho năm tới. Không để việc đã tháo gỡ khó khăn, đã xác định phải thực hiện mà tiếp tục kéo dài vì chậm quyết định, né tránh trách nhiệm.
Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện và phát huy vai trò của Nhân dân. Theo sát nhiệm vụ trọng tâm, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, chấn chỉnh thiếu sót; kiểm tra việc khắc phục, xử lý trách nhiệm. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội tăng cường vận động, giám sát, phản biện; bảo đảm Nhân dân được tham gia, thụ hưởng thành quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "Mỗi đồng chí Trung ương phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực, địa bàn được phân công; chọn đúng việc trọng tâm, giải quyết đến cùng những vấn đề thuộc trách nhiệm của mình. Đã nhận việc phải làm, đã cam kết phải thực hiện, có tồn tại, khuyết điểm phải khắc phục, sửa chữa. Sự gương mẫu phải bắt đầu từ chúng ta, từ công việc hằng ngày, tạo chuyển biến trong từng tổ chức và cả hệ thống. Ngay sau Hội nghị, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hãy cùng Nhân dân bắt tay vào công việc, tháo gỡ khó khăn, mở ra cơ hội phát triển. Với bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân".
Nguồn: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/truc-tiep-hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-4-119261016072300057.htm